Các hình thức đầu tư theo luật đầu tư mới.

Tin liên quan

Luật dân an

    Các hình thức đầu tư

      Theo pháp luật đầu tư hiện hành, có 4 hình thức đầu tư:

  • Thành lập tổ chức kinh tế;
  • Đầu tư góp vốn mua cổ phần;
  • Đầu thư theo hợp đồng hợp tác công tư (PPP);
  • Đầu tư theo hợp đồng hợp tác kinh donah (BCC).

       Thứ nhất,  về hình thức thành lập tổ chức kinh tế. Đây là hình thức đầu tư trực tiếp mà trong đó các nhà đầu tư tự mình hay cùng với các nhà đầu tư khác thành lập một doanh nghiệp mới theo trình tự và thủ tục của luật doanh nghiệp 2014. Với hình thức này cần lưu ý một số hạn chế của pháp luật đối với Nhà đầu tư nước ngoài. Cụ thể, theo Điều 22, Luật Đầu tư 2014 quy định rõ:

       “ Trước khi thành lập tổ chức kinh tế, nhà đầu tư nước ngoài phải có dự án đầu tư, thực hiện thủ tục cấp Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư theo quy định tại Điều 37 của Luật này và phải đáp ứng các điều kiện sau đây:

        a) Tỷ lệ sở hữu vốn điều lệ quy định tại khoản 3 Điều này;

       b) Hình thức đầu tư, phạm vi hoạt động, đối tác Việt Nam tham gia thực hiện hoạt động đầu tư và điều kiện khác theo quy định của điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên”.

      Khoản 3, Điều 22: “Nhà đầu tư nước ngoài được sở hữu vốn điều lệ không hạn chế trong tổ chức kinh tế, trừ các trường hợp sau đây:

      a) Tỷ lệ sở hữu của nhà đầu tư nước ngoài tại công ty niêm yết, công ty đại chúng, tổ chức kinh doanh chứng khoán và các quỹ đầu tư chứng khoán theo quy định của pháp luật về chứng khoán;

      b) Tỷ lệ sở hữu của nhà đầu tư nước ngoài trong các doanh nghiệp nhà nước cổ phần hóa hoặc chuyển đổi sở hữu theo hình thức khác thực hiện theo quy định của pháp luật về cổ phần hóa và chuyển đổi doanh nghiệp nhà nước;

       c) Tỷ lệ sở hữu của nhà đầu tư nước ngoài không thuộc quy định tại điểm a và điểm b khoản này thực hiện theo quy định khác của pháp luật có liên quan và điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên”.

      Ngoài ra, Nhà đầu tư khi thành lập doanh nghiệp mới mà có phần vốn nước ngoài từ 51% trở lên thì phải thực hiện thủ tục đầu tư như Nhà đầu tư nước ngoài vào thành lập doanh nghiệp ở Việt Nam (phải xin giấy chứng nhận đăng ký đầu tư).

          Thứ hai, hình thức đầu tư góp vốn mua cổ phần. Nhà đầu tư không thành lập doanh nghiệp mới mà chỉ góp vốn, mua cổ phần vào các doanh nghiệp đã được thành lập ở Việt Nam bằng các phương thức như: Mua cổ phần được phát hành lần đầu hoặc cổ phần phát hành thêm, được chuyển nhượng cổ phần, góp vốn vào công ty TNHH, công ty Hợp danh. Hạn chế đối với nhà đầu tư nước ngoài giống như hình thức đầu tư thành lập doanh nghiệp. Ngoài ra, khi có Nhà đầu tư nước ngoài góp vốn hoặc mua cổ phần vào công ty thì NĐT phải thực hiện thủ tục đăng ký thủ tục đăng ký góp vốn, mua cổ phần, phần vốn góp vào tổ chức kinh tế hoặc thực hiện thủ tục thay đổi cổ đông, thành viên theo quy định tại Điều 26 Luật đầu tư.

           Thứ ba, hình thức đầu tư theo hợp đồng PPP. Hợp đồng PPP là loại hợp đồng được ký kết giữa cơ quan nhà nước có thẩm quyền và nhà đầu tư, doanh nghiệp dự án để thực hiện dự án đầu tư theo quy định tại Điều 27, Luật đầu tư. Không phải mọi dự án đầu tư đều có thể thực hiện theo hình thức này. Trong NĐ 15/2015, Nhà nước chỉ quy định một số đối tượng có thể thực hiện đầu tư theo hợp đồng BCC. Vì một bên chủ thể trong hợp đồng là Nhà nước và Nhà nước khi tham gia với mục đích lớn nhất là phát triển kinh tế – xã hội. Một nhà đầu tư muốn đề xuất dự án thì phải có đủ điều kiện Khoản 1, Điều 15 NĐ 15/2015a) Phù hợp với quy hoạch, kế hoạch phát triển ngành, vùng và kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội của địa phương;b) Phù hợp với lĩnh vực đầu tư quy định tại Điều 4 Nghị định này;c) Có khả năng thu hút và tiếp nhận nguồn vốn thương mại, công nghệ, kinh nghiệm quản lý của nhà đầu tư;d) Có khả năng cung cấp sản phẩm, dịch vụ liên tục, ổn định, đạt chất lượng đáp ứng nhu cầu của người sử dụng;đ) Có tổng vốn đầu tư từ 20 tỷ đồng trở lên, trừ dự án đầu tư theo hợp đồng O&M và dự án quy định tại Điểm e Khoản 1 Điều 4 Nghị định này.”

       Cuối cùng là hình thức đầu tư theo hợp đồng BCC. Hợp đồng BCC là hợp đồng được ký giữa các nhà đầu tư nhằm hợp tác kinh doanh phân chia lợi nhuận, phân chia sản phẩm mà không thành lập tổ chức kinh tế. Việc khồng thành lập tổ chức kinh tế là một trong sự khác biệt cơ bản của hình thức đầu tư này với hình thức đầu tư thành lập tổ chức kinh tế.  Do đó, việc thực hiện dự án sẽ diễn ra một cách nhanh chóng, đơn giản, linh hoạt do không phải thành lập doanh nghiệp mà NĐT vẫn được nhận sự hỗ trợ về nguồn vốn, công nghệ, cũng như lao động, thị trường… Tuy nhiên, các NĐT khó xác định quyền và trách nhiệm của các NĐT, không có sự độc lập giữa các NĐT. Và trong quá trình thực hiện dự án, do không thành lập doanh nghiệp nên một các NĐT phải thỏa thuận một trong các bên đứng ra thực hiện các giao dịch cũng như ký kết các hợp đồng … Nên loại hình này không có sự phân chia rủi ro rõ ràng, thường sẽ chịu nhiều tổn thất lớn nếu xảy ra rủi ro. Ngoài ra, như đã nói ở trên, hình thức này thường gặp nhiều khó khăn trong việc phê duyệt dự án của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền…Vì vậy, một NĐT trong nước sẽ chỉ ký kết hợp đồng BCC khi bản thân họ không đủ điều kiện về lao động, công nghệ và là đặc biệt về vốn. 

       Tổng đài tư vấn pháp luật 1900 6195 hoạt động vào tất cả các ngày trong tuần (Trong trường hợp không được luật sư tư vấn kịp thời quý khách hàng vui lòng liên hệ qua Email lawdanan@gmail.com để được hỗ trợ).