Thẩm quyền xử lý vi phạm hành chính theo quy định của pháp luật hiện hành

Tin liên quan

          Vi phạm hành chính cũng như mọi hành vi trái pháp luật khác đều là những hành vi có khả năng gây nguy hiểm cho xã hội, xâm hại đến những quy tắc quản lý nhà nước. Vì vậy, tăng cường công tác đấu tranh phòng và chống vi phạm hành chính là một trong những nội dung rất quan trọng của hoạt động quản lý nhà nước, là một yêu cầu tất yếu và cấp thiết của nhà nước và xã hội. Trước tình hình vi phạm hành chính ngày một gia tăng, đa dạng, phức tạp cả về số lượng cũng như tính chất nguy hiểm cho xã hội của hành vi, thì hoạt động xử lý vi phạm hành chính hơn bao giờ hết càng được coi là một trong những biện pháp hiệu quả trong việc bảo vệ trật tự pháp luật, không ngừng tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa. Vậy, thẩm quyền xử lý vi phạm hành chính thuộc về những chủ thể nào?

Luật dân an

1. Căn cứ pháp lý, Luật Dân An đưa ra những phân tích dựa trên những văn bản pháp luật sau:

+ Căn cứ Luật xử lý vi phạm hành chính 2012;

+ Căn cứ Pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính 2002;

+ Căn cứ Nghị định số 81/2013/NĐ-CP hướng dẫn và biện pháp thi hành Luật xử lý vi phạm hành chính ngày 20 tháng 6 năm 2012.

2. Nội dung tư vấn:

             Trước hết, để hiểu rõ hơn về xử lý vi phạm hành chính, ta cần hiểu “Vi phạm hành chính” là gì? Khái niệm “vi phạm hành chính” được quy định lần đầu tại Pháp lệnh xử phạt vi phạm hành chính năm 1989. Các Pháp lệnh tiếp theo (năm 1995, 2002) không trực tiếp đề cập đến khái niệm này, do đó để đáp ứng nhu cầu thực tiễn trong việc áp dụng pháp luật, khoản 1 Điều 2 Luật xử lý vi phạm hành chính năm 2012 đã quy định vi phạm hành chính là: hành vi có lỗi, do cá nhân, tổ chức thực hiện, vi phạm quy định của pháp luật về quản lý nhà nước mà không phải là tội phạm và theo quy định của pháp luật phải bị xử phạt vi phạm hành chính.

             Trong lịch sử hình thành và phát triển của pháp luật về xử lý vi phạm hành chính, khái niệm này được xuất hiện lần đầu vào năm 1995 khi Ủy ban thường vụ Quốc hội thông qua Pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính: xử lý vi phạm hành chính trong Pháp lệnh này bao gồm xử phạt vi phạm hành chính và các biện pháp xử lý hành chính (khoản 1 Điều 1 Pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính năm 1995). Khái niệm xử lý vi phạm hành chính được duy trì và tiếp tục sử dụng trong Pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính năm 2002 và Luật xử lý vi phạm hành chính năm 2012 với hai nội dung cơ bản là xử phạt vi phạm hành chính và áp dụng các biện pháp xử lý hành chính.

               Luật xử lý vi phạm hành chính 2012 tuy không quy định cụ thể các biện pháp xử lý vi phạm hành chính, tuy nhiên, căn cứ theo tinh thần của Pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính 2002 (đã hết hiệu lực từ 01/7/2013) thì: các biện pháp xử lý vi phạm hành chính gồm: các biện pháp xử phạt hành chính và các biện pháp xử lý vi phạm hành chính khác. Trên cơ sở đó, Luật Dân An xin được đưa ra những phân tích về thẩm quyền xử lý vi phạm hành chính theo hai phần: Thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính và thẩm quyền áp dụng các biện pháp xử lý vi phạm hành chính khác.

               Thứ nhất, về thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính.

Luật hiện hành quy định những chủ thể có thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính theo phương pháp liệt kê từ Điều 38 đến Điều 51 Luật xử lý vi phạm hành chính 2012 bao gồm: Chủ tịch Ủy ban nhân dân các cấp, Công an nhân dân, Bộ đội biên phòng, Cảnh sát biển, Hải quan, Kiểm lâm, cơ quan Thuế, Quản lý thị trường, Thanh tra, Cảng vụ hàng hải, Cảng vụ hàng không, Cảng vụ đường thủy nội địa, Tòa án nhân dân, cơ quan thi hành án dân sự, Cục quản lý lao động ngoài nước, cơ quan đại diện ngoại giao, cơ quan lãnh sự, cơ quan khác được ủy quyền thực hiện chức năng lãnh sự của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ở nước ngoài.

Nhìn chung, tất cả các chức danh có thẩm quyền xử phạt quy định từ Điều 38 đến Điều 51 nói trên đều có thẩm quyền áp dụng hai hình thức xử phạt chính: Cảnh cáo và phạt tiền; còn những hình thức xử phạt chính và hình thức xử phạt bổ sung khác có sự quy định linh hoạt cho mỗi chức danh cụ thể.

Luật Xử lý vi phạm hành chính quy định thẩm quyền xử phạt của các chủ thể theo hướng tăng cường phân cấp, tăng thẩm quyền xử phạt cho các chức danh cơ sở – là cấp trực tiếp phát hiện, thụ lý phần lớn các vụ việc vi phạm hành chính, nhằm nâng cao sự chủ động của các chức danh có thẩm quyền xử phạt ở cấp cơ sở, giảm tình trạng dồn việc xử phạt lên cấp trên, góp phần nâng cao tính kịp thời, thiết thực, hiệu quả của việc xử phạt vi phạm hành chính.

Để mức phạt tiền của các chức danh có thẩm quyền xử phạt gắn liền với các lĩnh vực quản lý nhà nước và mức phạt tối đa trong các lĩnh vực quy định tại Điều 24, Luật thay đổi cách thức quy định về thẩm quyền áp dụng hình thức xử phạt tiền theo hướng không quy định thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính theo một mức phạt tiền cố định đối với tất cả các chức danh như Pháp lệnh XLVPHC mà quy định theo tỷ lệ phần trăm (%) so với các mức phạt tối đa được quy định tại Điều 24 của Luật, đồng thời có khống chế mức trần đối với một số chức danh có thẩm quyền chung hoặc xử phạt trong nhiều lĩnh vực. Việc quy định mức phạt tiền theo tỷ lệ phần trăm đối với các chức danh cụ thể trong Luật được quy định theo các tiêu chí, điều kiện sau đây:

– Thẩm quyền xử phạt tiền của từng chức danh trong từng lĩnh vực quản lý nhà nước cũng được quy định dựa trên chức năng, nhiệm vụ quản lý nhà nước của các cơ quan đó. Luật quy định mức phạt tiền của các chức danh có thẩm quyền xử phạt được xác định theo “các lĩnh vực tương ứng quy định tại Điều 24 của Luật” đối với các cơ quan có thẩm quyền xử phạt chung (Chủ tịch UBND các cấp, công an nhân dân, bộ đội biên phòng, cảnh sát biển, thanh tra) hoặc các cơ quan thực hiện chức năng quản lý đa ngành, đa lĩnh vực.

 – Đối với các cơ quan quản lý chuyên ngành (thuế, hải quan, kiểm lâm…), mức phạt tiền được quy định cụ thể là trong lĩnh vực quản lý nhà nước của các cơ quan, chức danh đó quy định tại Điều 24 của Luật.

– Đối với các chức danh có thẩm quyền xử phạt cấp cơ sở là chiến sĩ, cảnh sát viên, thanh tra viên, mức phạt được quy định từ 01% đến 02% mức phạt tiền tối đa trong lĩnh vực tương ứng quy định.

– Tùy theo cơ cấu, tổ chức của từng cơ quan/lực lượng có thẩm quyền xử phạt, mức phạt theo tỷ lệ phần trăm được chia thành các mức khác nhau từ 3% đến 50% tùy theo cấp quản lý và số lượng các chức danh có thẩm quyền xử phạt trong cơ quan/lực lượng đó. Các cơ quan/lực lượng có nhiều chức danh, nhiều cấp có thẩm quyền xử phạt như công an nhân dân, cảnh sát biển, tỷ lệ phần trăm được chia thành các mức 03%, 05%, 10%, 20%, 30%, 50% và mức tối đa, nhưng cơ quan có thẩm quyền chung có ít cấp xử phạt như: Chủ tịch UBND, tỷ lệ phần trăm chỉ được quy định thành ba mức là 10%, 50% và mức tối đa; cơ quan thanh tra, tỷ lệ phần trăm được quy định thành ba mức là 50%, 70% và mức tối đa.

* Ví dụ Điều 38 Luật xử lý vi phạm hành chính quy định:

  1. Chủ tịch UBND cấp xã có quyền: Phạt tiền đến 10% mức tiền phạt tối đa đối với lĩnh vực tương ứng quy định tại Điều 24 nhưng không quá 5.000.000 đồng;
  2. Chủ tịch UBND cấp huyện có quyền: Phạt tiền đến 50% mức tiền phạt tối đa đối với lĩnh vực tương ứng quy định tại Điều 24 của Luật này nhưng không quá 50.000.000 đồng;
  3. Mức phạt của người có thẩm quyền xử phạt liền kề với người có thẩm quyền phạt đến mức tối đa trong từng lĩnh vực quản lý nhà nước về cơ bản được quy định là 50% mức phạt tối đa của lĩnh vực đó. Ví dụ: Thẩm quyền của Cục trưởng Cục an ninh chính trị nội bộ là phạt đến mức tối đa đối với lĩnh vực tương ứng thì cấp dưới liền kề của chức danh này là Giám đốc công an cấp tỉnh là 50% mức phạt tiền tối đa đối với lĩnh vực tương ứng.

Về nguyên tắc xác định thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính: Luật bổ sung nguyên tắc xác định thẩm quyền xử phạt tại Điều 52. Theo đó, thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính của các chức danh là thẩm quyền áp dụng đối với một hành vi vi phạm hành chính của cá nhân; trong trường hợp phạt tiền, thẩm quyền xử phạt tổ chức gấp 2 lần thẩm quyền xử phạt cá nhân và được xác định theo tỷ lệ phần trăm quy định tại Luật Xử lý vi phạm hành chính đối với chức danh đó. Trường hợp phạt tiền đối với VPHC trong khu vực nội thành, thì các chức danh có thẩm quyền phạt tiền đối với các hành vi VPHC do Chính phủ quy định cũng có thẩm quyền xử phạt tương ứng với mức tiền phạt cao hơn đối với các hành vi VPHC do HĐND thành phố trực thuộc TW quy định áp dụng trong nội thành.

Bên cạnh đó, Điều 53 Luật XLVPHC quy định trường hợp chức danh có thẩm quyền xử phạt VPHC quy định tại Luật này có sự thay đổi về tên gọi thì các chức danh đó có thẩm quyền xử phạt, nhằm bảo đảm tính linh hoạt trong việc áp dụng quy định về thẩm quyền xử phạt VPHC. Đồng thời, Điều 54 Luật XLVPHC  quy định về việc giao quyền xử phạt vi phạm hành chính cho cấp phó được thực hiện thường xuyên hoặc theo vụ việc và phải thể hiện bằng văn bản, trong đó xác định rõ phạm vi, thời hạn giao quyền.

              Thứ hai, thẩm quyền áp dụng các biện pháp xử lý vi phạm hành chính.

+ Đối với thẩm quyền áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở giáo dục xã, phường, thị trấn, Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp xã xem xét, quyết định áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn. (Khoản 2 Điều 98 Luật xử lý vi phạm hành chính 2012).

+ Đối với thẩm quyền áp dụng đưa vào trường giáo dưỡng, Trong thời hạn 07 ngày, kể từ ngày nhận được hồ sơ quy định, Trưởng Công an cấp huyện xem xét, quyết định việc chuyển hồ sơ đề nghị Tòa án nhân dân cấp huyện áp dụng biện pháp đưa vào trường giáo dưỡng ( Điều 100 Luật xử lý vi phạm hành chính 2012).

+ Đối với thẩm quyền áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc, trong thời hạn 07 ngày, kể từ ngày nhận được hồ sơ quy định, Trưởng Công an cấp huyện quyết định việc chuyển hồ sơ đề nghị Tòa án nhân dân cấp huyện áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc (Điều 102).

+ Đối với thẩm quyền áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc, trong thời hạn 07 ngày, kể từ ngày nhận được hồ sơ quy định, Trưởng phòng Lao động – Thương binh và Xã hội cấp huyện quyết định việc chuyển hồ sơ đề nghị Tòa án nhân dân cấp huyện áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc (Điều 104).

        Trên đây là một số nội dung cơ bản về thẩm quyền xử lý vi phạm hành chính Luật Dân An đưa ra. Nếu còn bất cứ vướng mắc gì quý khách vui lòng liên hệ Tổng đài tư vấn pháp luật miễn phí 24/7: 19006178 để gặp luật sư tư vấn trực tiếp và để yêu cầu cung cấp dịch vụ.

     Luật Dân An chân thành cảm ơn sự quan tâm của quý khách hàng và rất mong nhận được ý kiến đóng góp của tất cả quý khách hàng và người dân trên cả nước để chúng tôi hoàn thiện và nâng cao chất lượng dịch vụ của mình.

Trân trọng cảm ơn!

Mọi chi tiết xin vui lòng liên hệ:

CÔNG TY TNHH TƯ VN DÂN AN

Đa ch: lô C34 khu đu giá Ngô Thì Nhm, phường Hà Cu, qun Hà Đông, thành ph Hà Ni.

Email: lawdanan@gmail.com – website: luatdanan.com

Bài viết tham khảo:

Luật sư tư vấn qua Tổng đài;

Luật sư tư vấn Sở hữu trí tuệ;

Luật sư tư vấn Dân sự