Tội xâm phạm nghĩa vụ, trách nhiệm quân nhân BLHS 2015

Tin liên quan

Các hành vi xâm phạm nghĩa vụ, trách nhiệm của quân nhân đã được quy định tại Chương XXIII BLHS 1999 (sửa đổi, bổ sung năm 2009) với 26 điều luật (từ Điều 315đến Điều 340), trong đó có 01 điều giải thích thuật ngữ (Điều 315). Tại BLHS 2015 đã sửa đổi, bổ sung 06 nội dung như sau:

(i) đổi tên chương “Các tội xâm phạm nghĩa vụ, trách nhiệm của quân nhân” thành chương “Các tội xâm phạm nghĩa vụ, trách nhiệm, của quân nhân và trách nhiệm của người phối hợp với quân nhân trong chiến đấu và phục vụ chiếm đấu ” .

(ii) hình sự hóa một số hành vi xâm phạm tới hoạt động quân sự. Cụ thể, BLHS 2015  đã đề xuất quy định 04 tội danh mới gồm tội ra mệnh lệnh trái pháp luật (Điều 393); hành vi không làm nhiệm vụ trong chiến đấu (trong tội bỏ vị trí chiến đấu ở điều 324 BLHS 1999) nay nằm trong Điều 401; hành vi cố ý làm hư hỏng vũ khí quân dụng, trang bị kỹ thuật (trong tội hủy hoại vũ khí quân dụng, phương tiện chiến đấu trong Điều 334 BLHS 1999) nay nằm trong Điều 413 BLHS 2015

(iii) sửa đổi về mặt kỹ thuật theo hướng tách một số tội có chủ thể tội phạm, đối tượng tác động khác nhau trong cùng một điều luật thành các điều độc lập và ghép một số điều có hành vi phạm tội giống nhau thành một điều luật;

(iv) điều chỉnh mức hình phạt được quy định trong các điều luật theo hướng giảm thời hạn áp dụng hình phạt tù và hạn chế hình phạt tử hình;

(v) bổ sung yếu tố gây hậu quả nghiêm trọng trong dấu hiệu định tội của Tội cản trở đồng đội thực hiện nhiệm vụ (Điều 411 của  Bộ luật);

 Lý do sửa đổi, bổ sung:

Về đổi tên chương thành “Các tội xâm phạm hoạt động quân sự” và sửa lại khái niệm về tội xâm phạm hoạt động quân sự.

Việc sửa đổi này nhằm thể hiện đầy đủ và bao quát hết các hành vi, đối tượng áp dụng của chương, BLHS 2015 đổi tên chương “Các tội xâm phạm nghĩa vụ, trách nhiệm của quân nhân” thành chương “Các tội xâm phạm hoạt động quân sự”. Cùng với đó, Điều 315 BLHS 1999 với nội dung quy định các chủ thể phải chịu trách nhiệm hình sự về các tội xâm phạm nghĩa vụ, trách nhiệm của quân nhân được sửa đổi thành Điều 403 với nội dung giải thích khái niệm các tội xâm phạm hoạt động quân sự. Cụ thể, tại điều này đã định nghĩa các tội phạm xâm phạm hoạt động quân sự là những hành vi xâm phạm chế độ hoạt động quân sự do các chủ thể sau đây thực hiện:

+ Quân nhân tại ngũ, công nhân viên quốc phòng;

+ Quân nhân dự bị trong thời gian tập trung huấn luyện

+ Dân quân, tự vệ trong thời gian phối thuộc với quân đội trong chiến đấu, phục vụ chiến đấu;

+ Công dân được trưng tập hoặc phục vụ trong quân đội

Như vậy, so với BLHS 1999,  BLHS 2015 đã bổ sung thêm chủ thể của Chương này. Cụ thể là dân quân, tự vệ trong thời gian tập trung huấn luyện và công dân phục vụ trong quân đội. Việc bổ sung các chủ thể này để phù hợp với các quy định liên quan đến hoạt động quân sự như Luật dân quân tự vệ, pháp luật về lao động.

Về việc hình sự hóa một số hành vi xâm phạm tới hoạt động quân sự, BLHS 2015 đã  quy định 01 tội danh mới- tội ra mệnh lệnh trái pháp luật (Điều  394); hành vi không làm nhiệm vụ trong chiến đấu trong tội bỏ vị chiến đấu (Điều 401); hành vi cố ý làm hư hỏng vũ khí quân dụng, trang bị kỹ thuât quân sự trong tội hủy hoại vũ khí quân dụng, trang bị kỹ thuật (Điều 413).

+ Tội ra mệnh lệnh trái pháp luật được đề xuất quy định nhằm đấu tranh phòng, chống hành vi lợi dụng quyền hạn để ra mệnh lệnh trái pháp luật, vượt thẩm quyền. Đồng thời, việc quy định tội phạm đối với hành vi này nhằm bảo đảm tính thống nhất, đồng bộ của quy định pháp luật, không phân biệt giữa quân nhân phải chấp hành mệnh lệnh với quân nhân ra mệnh lệnh. Theo đó, người nào lợi dụng chức vụ, quyền hạn ra mệnh lệnh trái pháp gây hậu quả nghiêm trọng thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 3 năm hoặc phạt tù từ 6 tháng đến 05 năm.

Phạm tội thuộc một trong các trường hợp: trong chiến đấu, trong khu vực có chiến sự trong thực hiện nhiệm vụ cứu hộ, cứu nạn, trong tình trạng khẩn cấp, gây hậu quả rất nghiêm trọng thì bị phạt tù từ 3 năm đến 10 năm. Phạm tội gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng hoặc trong trường hợp đặc biệt khác thì bị phạt tù từ 07 năm đến 15 năm.

+ Tội vắng mặt trái phép trước đây đã được quy định tại BLHS 1985 và đến BLHS 1999 thì phi hình sự hóa. Tuy nhiên, qua thực tiễn, nhận thấy hành vi này trong một số trường hợp có ảnh hưởng nghiêm trọng tới kỷ luật của quân đội và thường được xử lý về tội bỏ vị trí chiến đấu. Như vậy, không thể hiện đúng bản chất của hành vi khách quan và mục đích của người thực hiện hành vi. Do đó, để xử lý đúng tính chất của hành vi vi phạm, tội vắng mặt trái phép đã được đề xuất bổ sung trong lần này. Tuy nhiên, phạm vi xử lý đối với hành vi vắng mặt trái phép được bổ sung trong BLHS rất hạn chế. Hành vi vắng mặt trái phép chỉ bị xử lý hình sự khi đã bị xử lý kỷ luật về hành vi này mà còn vi phạm hoặc hành vi vắng mặt trái phép gây hậu quả nghiêm trọng.

+ Hình sự hóa hành vi hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng vũ khí quân dụng, trang bị kỹ thuật quân sự. Tại Điều 413 BLHS 2015 đã quy định trách nhiệm hình sự đối với hành vi này. Cụ thể, Điều 413 quy định tội hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng vũ khí quân dụng, trang bị kỹ thuật quân sự. Việc bổ sung hành vi này nhằm đáp ứng yêu cầu thực tiễn phòng, chống tội phạm và để đảm bảo tính thống nhất với các quy định khác của BLHS như tội hủy hoặc hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản quy định tại chương các tội xâm phạm sở hữu. Theo đó, người nào hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng vũ khí quân dụng, trang bị kỹ thuật quân sự, nếu không thuộc trường hợp quy định tại Điều 114 và Điều 303 của Bộ luật thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp: trong chiến đấu, trong khu vực có chiến sự lôi kéo người khác phạm tội, gây hậu quả nghiêm trọng thì bị phạt tù từ 7 năm đến 12 năm. Phạm tội gây hậu quả rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng thì bị phạt tù từ 12 năm đến 20 năm hoặc tù chung thân.

+ Hình sự hóa hành vi không làm nhiệm vụ trong chiến đấu. Quy định hành vi hình sự này trong tội bỏ vị trí chiến đấu (Điều 401). Theo đó người nào tự ý rời bỏ vị trí chiến đấu hoặc không làm nhiệm vụ trong chiến đấu thì bị phạt tù từ 2 năm đến 7 năm. Phạm tội thuộc trong các trường hợp: là chỉ huy hoặc sỹ quan, bỏ vu khí, trang bị kỹ thuật quân sự hoặc tài liệu bí mật công tác quân sự; lôi kéo người khác phạm tội; gây hậu quả nghiêm hoặc rất nghiêm trọng thì bị phạt tù từ 5 năm đến 12 năm. Phạm tội gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng thì phạt tù từ 12 năm đến 20 năm.

Về việc tách một số tội có chủ thể tội phạm, đối tượng tác động khác nhau trong cùng một điều luật thành các điều độc lập và ghép một số điều có hành vi phạm tội giống nhau thành một điều luật

Nhằm đảm bảo sự minh bạch, tính logic của BLHS, một số điều luật của Chương các tội xâm phạm hoạt động quân sự đã được sửa đổi, bổ sung theo hướng tách một số tội có chủ thể tội phạm, đối tượng tác động khác nhau trong cùng một điều luật thành các điều độc lập và ghép một số điều có hành vi phạm tội giống nhau thành một điều luật. Cụ thể như sau:

– Đối với 03 tội: tội làm nhục, hành hung người chỉ huy hoặc cấp trên; tội làm nhục hoặc dùng nhục hình đối với cấp dưới; tội làm nhục, hành hung đồng đội do tồn tại một số bất cập như đã trình bày ở trên, nên trong  BLHS lần này nhập lại thành hai tội: tội làm nhục đồng đội và tội hành hung đồng đội. Theo  BLHS 2015 thì hành vi hành hung đồng đội đã được cụ thể hóa thêm một bước. Cụ thể hành vi hành hung được hiểu là hành vi cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của đồng đội mà không thuộc trường hợp quy định tại Điều 135 của Bộ luật. Đồng thời, bộ luật  đã quy định bổ sung thêm một số tình tiết định khung tăng nặng tại khoản 2 của mỗi điều luật để phù hợp với thực tiễn (các tình tiết: chủ thể phạm tội là chỉ huy hoặc sỹ quan; đối với chỉ huy hoặc cấp trên; vì lý do công vụ của nạn nhân và phạm tội trong khu vực có chiến sự).

Với việc sửa đổi các điều này, Bộ luật cũng đã phi hình sự hóa đối với hành vi làm nhục, hành hung người chỉ huy hoặc cấp trên và hành vi làm nhục hoặc dùng nhuc hình đối với cấp dưới quy định tại BLHS 1999.

– Các điều  327, 328, 336 BLHS 1999 cũng đã được tách ra thành các điều độc lập như sau:

+ Điều 327 của BLHS hiện hành được tách thành hai điều: Điều 404. Tội cố ý làm lộ bí mật công tác quân sự và Điều 405. Tội chiếm đoạt, mua bán hoặc tiêu hủy tài liệu bí mật công tác quân sự.

+ Điều 328 BLHS hiện hành được tách thành hai điều: Điều 406. Tội vô ý làm lộ bí mật công tác quân sự và Điều 407. Tội làm mất tài liệu bí mật công tác quân sự.

+ Điều 336 BLHS 1999 tách thành hai điều: Điều 417. Tội cố ý bỏ thương binh, tử sĩ hoặc không chăm sóc, cứu chữa thương binh và Điều 418. Tội chiếm đoạt hoặc hủy hoại di vật của tử sĩ.

Về hình phạt áp dụng đối với các tội xâm phạm hoạt động quân sự:

Đáp ứng yêu cầu của cải cách tư pháp về hạn chế hình phạt tử hình trong quy định của BLHS và hạn chế hình phạt tù, trên cơ sở rà soát, tổng kết thực tiễn đấu tranh phòng, chống tội phạm, BLHS 2015 đã đề xuất điều chỉnh mức hình phạt được quy định trong các điều luật theo hướng giảm thời hạn áp dụng hình phạt tù và hạn chế hình phạt tử hình. Cụ thể, có 11 điều quy định thời hạn áp dụng hình phạt tù giảm tại các khoản hoặc một trong các khoản quy định tại điều luật so với BLHS năm 1999; có 02 điều bỏ hình phạt tử hình (Điều 394. Tội chống mệnh lệnh; Điều 399. Tội đầu hàng địch); có 02 điều bỏ hình phạt tù chung thân (Điều 400. Tội khai báo hoặc tự nguyện làm việc cho địch khi bị bắt làm tù binh; Điều 401. Tội bỏ vị trí chiến đấu hoặc không làm nhiệm vụ trong chiến đấu).

Đối với tội cản trở đồng đội thực hiện nhiệm vụ, để đảm bảo tính khả thi và đáp ứng yêu cầu của thực tiễn đấu tranh phòng, chống tội phạm, Điều 396 BLHS 2015 đã bổ sung yếu tố gây hậu quả nghiêm trọng trong dấu hiệu định tội. Như vậy, có sự thay đổi cơ bản trong cấu thành tội phạm của tội cản trở đồng đội thực hiện nhiệm vụ, từ cấu thành hình thức sang cấu thành vật chất.

Về việc thêm một số tình tiết là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự cho 1 số tội:

Tội báo cao sai (Điều 408); tội vi phạm về quy định trực ban, trực chiến, trực chỉ huy (Điều 409); tội vi phạm quy định về bảo vệ (Điều 410). Theo đó Khoản 2 Điều 408 hình sự hóa các tình tiết mà tội báo cáo sai thuộc trong các trường hợp : trong chiến đấu, trong khu vực có chiến sự, trong tình trạng khẩn cấp thì bị phạt tù từ 2 năm đến 7 năm. Khoản 2 Điều 409 tội vi phạm quy định về trực ban, trực chiến, trực ban chỉ huy thuộc các trường hợp: trong chiến đấu, trong khu vực có chiến sự , trong khi thực hiện nhiệm vi cứu hộ, cứu nạn, trong tình trạng khẩn cấp.

Tội vi phạm quy định về bảo vệ: người nào không chấp hành nghiêm chỉnh quy định về tuần tra, canh gác, áp tải, hộ tống thuộc một trong các trường hợp sau đây : làm người được bảo vệ, hộ tống bị tổn thương cơ thể; làm hư hỏng phương tiện kỹ thuật, thiết bị quân sự; làm thiệt hại về tài sản từ 100.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng ; gây hậu quả nghiêm trọng thì bị phạt cải tạo không giam giữ đên 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 05 năm. Phạm tội thuộc trong các trường hợp làm người được bảo vệ, hộ tống chết; làm mất phương tiện  kỹ thuật, thiết bị quân sự; trong chiến đấu; trong khu vực có chiến sự; lội kéo người khác phạm tộ i thf bị phạt tù từ 3 năm đến 7 năm.

         Mọi thắc mắc liên quan đến các tội xâm phạm nghĩa vụ, trách nhiệm quân nhân, quý khách hàng xin liên hệ qua số 1900 6195 để gặp luật sư tư vấn chuyên lĩnh vực hình sự của công ty tư vấn Dân an.